Theo số liệu chính thức của Tổng cục Thống kê Trung Quốc, giá tiêu dùng tại Trung Quốc trong tháng 10 đã tăng 4,4% so cùng kỳ năm trước, mức tăng cao nhất trong 2 năm trở lại đây và cao hơn mục tiêu 3% cho năm 2010. Trong đó, giá lương thực - thực phẩm tăng trên 10%, giá bất động sản tại 70 thành phố tăng 8,6%. Các chuyên gia kinh tế cho rằng, lạm phát thực tế tại Trung Quốc còn cao hơn nhiều. Theo Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Trung Quốc, từ 5 năm qua, lạm phát được đánh giá và công bố thường thấp hơn thực tế tới 7%. Theo Le monde, giá cả trung bình của 18 loại rau quả tại 36 thành phố của Trung Quốc tăng 62,4% trong 1 năm qua.
Nguyên nhân tăng giá được các cơ quan Chính phủ giải thích là do tăng lương, dòng vốn vào đã làm tăng giá cả và thanh khoản quá mức. Tuy nhiên, việc duy trì đồng nhân dân tệ (NDT) yếu là yếu tố cơ bản của lạm phát.
Theo báo cáo của Ủy ban Đánh giá kinh tế và An ninh Mỹ - Trung Quốc, mặc dù Trung Quốc tăng giá NDT thêm 2,6% (2,3% vào ngày 19/6 và 0,31% vào ngày 11/11), nhưng NDT vẫn thấp 20-40% so với USD trên thị trường và Chính phủ có thể qui định tỉ giá hàng ngày giữa USD và NDT. Giá NDT thấp hơn USD có tác dụng hỗ trợ xuất khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài, nhưng lạm phát bị kiềm chế do Trung Quốc qui định người dân, giới kinh doanh và các nhà xuất khẩu Trung Quốc phải bán USD cho Chính phủ để lấy NDT, đồng thời giảm lượng NDT trong lưu thông. Do nắm giữ lượng USD rất lớn, Trung Quốc phải chuyển USD vào các khoản dự trữ ngoại tệ và đẩy mạnh đầu tư ra nước ngoài. Hơn nữa, chiến lược tăng trưởng kinh tế dựa vào xuất khẩu đòi hỏi Trung Quốc phải quay vòng USD bằng cách mua các loại chứng khoán tính bằng USD, nghiệp vụ này giúp Trung Quốc tiếp tục giữ giá NDT thấp hơn USD. Kể từ khi Trung Quốc gia nhập WTO năm 2001, thâm hụt cán cân vãng lai hàng năm của Mỹ với Trung Quốc tăng từ 89 tỉ USD năm 2001 lên 264 tỉ USD năm 2009, và những dự đoán quan hệ kinh tế giữa hai nước sẽ cân bằng hơn sau khi Trung Quốc gia nhập WTO hoàn toàn không chính xác.
Do Trung Quốc mua USD để đầu tư ra nước ngoài, nên lượng NDT trong lưu thông tăng dần nhưng giá trị tăng chậm, tiềm ẩn rủi ro lạm phát. Việc duy trì NDT yếu đã làm tăng dòng vốn vào, gây áp lực lên giá cả và hình thành bong bóng tài sản. Nguy cơ lạm phát cũng gia tăng do chương trình của Chính phủ về hỗ trợ phục hồi kinh tế đã đưa tổng giá trị tín dụng năm 2009 đạt 9.600 tỉ NDT, tăng gấp đôi so năm trước, nhưng phần lớn khoản tiền lại được đầu tư vào thị trường bất động sản, gây ra tình trạng bong bóng bất động sản và chứng khoán. Mục tiêu tín dụng năm 2010 tuy đã giảm xuống còn 7.500 tỉ NDT, nhưng 10 tháng đầu năm đã cho vay tới 6.890 tỉ NDT.
Để đối phó với lạm phát, Chính phủ Trung Quốc đã thực thi nhiều biện pháp như, tăng lãi suất ngân hàng, tăng tỉ lệ dự trữ bắt buộc và hạn chế cho vay, tăng cường kiểm soát thị trường bất động sản, đồng thời đề ra mục tiêu cho năm 2011 là kiềm chế lạm phát ở mức 4% và thắt chặt chính sách tiền tệ. Tuy nhiên, áp lực lạm phát vẫn tồn tại, các biện pháp điều chỉnh thị trường bất động sản đã đẩy giới đầu cơ chuyển sang lĩnh vực nguyên liệu và nông sản, làm tăng giá thực phẩm và hàng tiêu dùng nói chung, trong bối cảnh thời tiết khắc nghiệt trong năm đã gây thiệt hại rất lớn cho nông nghiệp và hỗ trợ lạm phát. Tình trạng đầu cơ này cũng lan sang Việt Nam, làm tăng giá nguyên liệu, nông sản và thủy sản tại Việt Nam, khi Tết Nguyên đán sắp đến gần, nhưng rất khó kiểm soát do hoạt động đầu cơ này chủ yếu được thực hiện dưới hình thức buôn bán tiểu ngạch.
Một số nhà kinh tế cho rằng, những biện pháp của Chính phủ Trung Quốc chỉ có tác dụng hạn chế và nhất thời, vì nó không giải quyết được vấn đề có quá nhiều tiền đang được lưu thông. Do NDT quá thấp so với giá trị thực, chỉ cần Mỹ in thêm tiền là gây biến động rất lớn cho nền kinh tế Trung Quốc, nổi bật là lạm phát.
Hoàng Thế Thoả



0 nhận xét:
Đăng nhận xét